Hồn lúa In Email
Thư giãn

TTCT - Tôi đọc trên báo Tuổi Trẻ một bài báo có tựa đề “Mối tình 20 năm với hạt lúa”. Bài báo viết về một nhà điêu khắc người Nhật, suốt 20 năm qua cứ khăng khăng sáng tạo một chủ đề duy nhất là hạt lúa nhằm ca ngợi nguồn tài nguyên dinh dưỡng then chốt của các nước châu Á, đồng thời nhắc nhở con người chớ vì sự phát triển kinh tế mà phụ bạc cây lúa.

 

Công việc của nhà điêu khắc người Nhật buộc tôi phải suy nghĩ về những hạt lúa đã nuôi mình lớn lên.

 

Ảnh: Hoàng Thạch Vân

Ngày tôi còn bé, má tôi nói riêng và những người già của làng tôi nói chung đều có một thói quen: hễ con cái làm rơi rớt hạt cơm, nếu là chỗ sạch thì họ bắt nhặt lên ăn cho kỳ hết mới thôi, nếu cơm rớt chỗ bẩn thì họ dùng tay hay những dụng cụ sạch nhặt lên mang cho gia súc ăn. Không bao giờ họ dùng chổi quét nhà để quét cơm. Nếu con cái lỡ chân giẫm phải hạt cơm đổ thì má tôi cứ xuýt xoa: “Tội chết con ơi”.

Tương tự như hạt cơm, hạt muối cũng được tôn trọng đến mê tín.

Hồi nhỏ chúng tôi được nghe chuyện cổ tích về hạt lúa: Ngày xửa ngày xưa, hạt lúa to bằng trái dừa khô, đến khi chín lúa tự lăn vào nhà chủ ruộng. Hôm nọ, tại nhà một người đàn bà có máu mê cờ bạc, ngay trong lúc mụ ta gấp rút đến chiếu bạc thì lúa ngoài đồng lăn vào nhà, choáng cả lối đi. Bực bội mụ ta dùng chổi quét nhà vừa quét vừa đập hạt lúa bể ra. Kể từ đó hạt lúa biến thành nhỏ xíu như bây giờ và khi chín nó không tự lăn vào nhà nữa.

Câu chuyện cổ tích ấy như sương như khói, lảng vảng trong đời sống bọn trẻ làng tôi từ thế hệ ngày đến thế hệ khác về phản ứng của hạt lúa, về thái độ nông dân với lúa.

Khi lớn lên đi khỏi làng, có một ít trải nghiệm cuộc đời thì tôi mới ngộ được sự sùng tín hạt lúa của má tôi, của dân làng tôi.

Đất đai của làng tôi xưa là một vùng đất nhiễm phèn mặn lâu đời. Vì đất nhiễm phèn nên mùa sa mưa là các loại cỏ năng, lác, cỏ nước mặn thi nhau mọc. Không thể canh tác thông thường như ở ĐBSCL, nơi đến mùa mưa người ta cứ cày bừa rồi cấy, đất làng tôi cỏ nhiều quá phải dùng phảng phát cỏ. Phát xong thì chế (phát cỏ lại) rồi mới cấy. Mà không phải cấy tay như bình thường, phải dùng đến nọc cấy, chọc xuống đất cứng một lỗ để tra bụi mạ non vào. So với cấy tay thì cấy nọc nặng nhọc gấp đôi.

Tôi nhớ tháng 8 mưa dầm, má tôi trầm mình dưới đồng sâu cấy đến đỏ đèn mới xong một công cấy nọc. Lúa ở đồng làng tôi cấy xuống nở rất nhanh, thế nhưng đất có quá nhiều cỏ, lại có gốc phèn mặn nên chỉ cần thời tiết thay đổi một chút, ví như hạn bà chằn, dứt mưa sớm, gió bấc về sớm hơn thường niên... là lập tức những bụi lúa to bằng cái tô con gà bỗng héo úa, tàn lụi. Người nông dân “chết đứng” nhìn cánh đồng của mình, trong đôi mắt họ ngọn lửa hi vọng về một cái tết có áo mới, nồi thịt kho hột vịt... cũng tàn lụi theo bụi lúa.

Những năm mùa màng thất trắng, ba tôi giận dữ bỏ đi vùng khác đập lúa mướn. Má và chị Hai tôi sáng tinh mơ đã cắp thúng ra đồng, lục lọi trong đám cỏ năng, cỏ nước mặn để tìm những bông lúa chắc còn sót lại. Má và chị đội nắng tới xế chiều về đến nhà cũng chỉ mót được mỗi người lùm lùm một thúng táo. Những hạt lúa đó có màu rất lem luốc chứ không sáng rỡ mây mẩy như lúa trúng mùa.

Má tôi cho vào cái cối giã gạo rồi sàng ra được những hạt gạo sứt đầu mẻ trán và ốm còm như người dân quê tôi ốm yếu xanh lả vì thiếu dưỡng chất. Vậy mà rồi “giẻ rách cũng đỡ đần móng tay”, những hạt gạo ấy trộn thêm khoai sắn đã giúp lũ anh em chúng tôi sống lay lắt qua mùa giáp hạt để chờ mùa vụ tới. Tôi nhớ như in hương vị của hạt cơm đó, nó ít chất béo, vị mặn. Phải chăng cái vị mặn ấy là do mồ hôi, nước mắt của má tôi và chị Hai tôi tưới lên.

Chính vì làm ra hạt lúa khó khăn đến “chảy máu con mắt” như thế nên dân làng tôi quý trọng hạt lúa đến sùng tín. Như thể hạt lúa là vật linh, trong hạt lúa có cả linh hồn.

Ở mỗi thời đại, mỗi vùng miền, giá trị dinh dưỡng, giá trị tiền bạc của hạt lúa ít bị thay đổi, nhưng cái giá trị lao động làm ra hạt lúa có thể thay đổi rất lớn. Có một bài toán của hạt lúa và cuộc đời rất dễ tính như cộng, trừ, nhân, chia nhưng không hẳn ai cũng làm được phép tính ấy.

Một đất nước nghèo, một làng quê nghèo, một bà mẹ nghèo khi làm ra hạt lúa để nuôi ta lớn khôn hẳn phải tốn nhiều mồ hôi nước mắt hơn hẳn những làng nước khá giả. Các nhà đạo đức gọi đó là công đức. Còn tôi, chỉ có thể gọi bừa nó là một phép tính. Ai không làm được phép tính ấy thì đã thiếu đi cái nhân cách con người!

 

PHAN TRUNG NGHĨA

Theo Tuoitreonline

(An Phong st)

  

Chứng nhận

 

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Hiện có 7 khách Trực tuyến
Tien Con Ga Bán Tiền Cổ Tiền Xu Gà